Bản sắc văn hóa dân tộc là gì

Bản sắc văn hóa dân tộc là gì

CTYPE HTML PUBLIC “-//W3C//DTD HTML 4.0 Transitional//EN”>Bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Bạn đang xem: Bản sắc văn hóa dân tộc là gì

***
**

Xem thêm: Dung Sai Là Gì – Nghĩa Của Từ Dung Sai

*
*

Xem thêm: Các Thành Phần Của Máu Và Phân Biệt Huyết Thanh Là Gì

Đó chính là mọi tiềm năng sáng tạo của từng con người cũng như của cả dân tộc Việt Nam. Tiềm năng sáng tạo đó được xây dựng dựa trên nền tảng của một nền văn hóa vừa tiên tiến, vừa đậm đà bản sắc dân tộc. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với kinh tế – xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ CNH, HĐH, hội nhập kinh tế quốc tế”.Do đó, nghiên cứu bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam gắn với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước vừa có ý nghĩa lâu dài, vừa mang tính thời sự cấp bách cả về lý luận và thực tiễn.1. Quan niệm về bản sắc dân tộc của văn hóa và bản sắc dân tộc của văn hóa Việt NamHiện có nhiều thuật ngữ liên quan đang được sử dụng như “bản sắc dân tộc”, “bản sắc văn hóa” hay kết hợp “bản sắc dân tộc của văn hóa”, “bản sắc văn hóa dân tộc”. Vậy có thể hiểu như thế nào về các thuật ngữ trên? Theo cách hiểu nguyên nghĩa của từ “bản sắc” có nghĩa như sau: với từ “bản” hay bổn nghĩa là gốc, cái cốt lõi thuộc về phần mình như bản nguyên (nguồn gốc), cơ bản (nền gốc)… “Sắc” nghĩa là màu, vẻ, dung mạo, sắc thái. Như vậy, “bản sắc” là tính chất đặc biệt vốn có, là cái riêng để phân biệt với những cái khác. “Bản sắc dân tộc” là những nét đặc biệt, đặc trưng làm nên bản lĩnh, sắc thái, dấu ấn riêng của từng dân tộc. Đó là những nét để phân biệt sự khác nhau giữa dân tộc này với dân tộc khác.Bản sắc dân tộc không chỉ bao gồm văn hóa mà là tập hợp những đặc trưng cho một quốc gia. Tuy nhiên, khi nói bản sắc của một dân tộc thì chủ yếu là nói bản sắc văn hóa của một dân tộc, hay bản sắc văn hóa của dân tộc chính là nói đến sắc thái đặc trưng của dân tộc. Như vậy, bản sắc văn hóa chính là sắc thái, là cái gốc của một nền văn hóa, những đặc trưng riêng không thể trộn lẫn trong cội nguồn văn hóa của mỗi dân tộc. Nó được lắng đọng, kết tinh, được quy định từ hoàn cảnh lịch sử, địa lý, trình độ nhận thức và thực tiễn, tâm lý…của mỗi dân tộc, tạo thành truyền thống và cơ sở tồn tại cho đời sống tinh thần dân tộc.Như trên đã phân tích, có thể hiểu bản sắc dân tộc của văn hóa chính là cốt lõi, sắc thái, dấu ấn riêng và là linh hồn của một nền văn hóa. Theo nghĩa này, bản sắc dân tộc của văn hóa gắn liền với sự tồn tại của dân tộc. Bản sắc dân tộc của văn hóa còn thì dân tộc còn, mất bản sắc dân tộc của văn hóa thì mất dân tộc. Bản sắc dân tộc của văn hóa biểu hiện chủ yếu trong cốt cách tâm hồn của con người và các di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể), thể hiện trong mọi mặt đời sống, hoạt động và mối quan hệ xã hội của mỗi dân tộc.Có thể nhận thấy bản sắc dân tộc của văn hóa có đặc điểm như sau: Thứ nhất, là một hệ thống giá trị văn hóa đã được hình thành và phát triển trong suốt lịch sử của mỗi dân tộc, mang đậm trí tuệ, phong cách văn hóa tạo thành sắc thái, dấu ấn, bản lĩnh riêng, thành cái cốt lõi, tinh túy, là linh hồn và truyền thống của một dân tộc, thể hiện trong hoạt động vật chất và tinh thần của mỗi thành viên trong cộng đồng dân tộc; Thứ hai, nó luôn phát huy tính tích cực trong đời sống xã hội đương đại, và thể hiện không chỉ là những giá trị trong quá khứ mà còn là những giá trị hiện thực, hướng đến tương lai.Đảng ta khẳng định: “Bằng lao động sáng tạo và ý chí đấu tranh bền bỉ, kiên cường, nhân dân ta đã xây dựng nên một nền văn hóa kết tinh sức mạnh và in đậm dấu ấn bản sắc của dân tộc, chứng minh sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của dân tộc Việt Nam”. Và “Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạo thành những nét đặc sắc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết; tính cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng – nước; lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; tế nhị trong cư xử, giản dị trong lối sống…. Bản sắc dân tộc còn đậm nét trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo”.Mỗi dân tộc đều có điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội riêng tạo nên nền văn hóa mang bản sắc riêng của từng dân tộc. Có thể thấy, các giá trị bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam được tạo nên từ những điều cơ bản sau:Thứ nhất, quốc gia dân tộc Việt Nam được hình thành từ rất sớm, gắn liền với nền văn minh nông nghiệp lúa nước, với hình thức tổ chức cộng đồng làng, xã đã tạo nên một dân tộc định cư, gắn bó với quê hương, Tổ quốc. Cư dân Việt sớm hình thành về ý thức quốc gia dân tộc và tình cảm của mình đối với đất nước.Thứ hai, nhìn một cách đại thể, xã hội Việt Nam chưa bao giờ có một phương thức sản xuất hoàn thiện, mà tồn tại một phương thức sản xuất mang tính phức tạp và khó phân kỳ lịch sử. Do đó, nó chi phối đến việc hình thành tập quán, văn hóa, tư tưởng và ghi đậm dấu ấn vào bản sắc văn hóa dân tộc.Thứ ba, dân tộc ta từ khi hình thành quốc gia – dân tộc luôn nêu cao tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Trải qua thời gian nó đã được hun đúc, kết tinh và tạo nên trong đời sống của người Việt Nam một bản sắc riêng in đậm dấu ấn với những giá trị tinh thần của dân tộc được tạo nên nhằm bảo vệ sự sống còn của dân tộc, bảo vệ độc lập tự chủ của quốc gia.Thứ tư, vị trí địa chính trị – kinh tế hết sức thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế – xã hội và đặc biệt là giao lưu văn hóa. Dân tộc Việt Nam ngay từ sớm đã biết mở rộng, tiếp thu, chắt lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại. Xét đến cùng, yếu tố chính để quyết định nội dung và bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam chính là cuộc sinh tồn lịch sử của dân tộc Việt Nam.2. Vai trò của bản sắc dân tộc và văn hóa Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nướcLịch sử phát triển công nghiệp hóa trên thế giới tính đến nay đã được hơn 200 năm, với nhiều mô hình khác nhau. Gắn với các mô hình công nghiệp hóa tùy theo góc độ nghiên cứu có rất nhiều quan niệm khác nhau về nó. Đối với các nước phát triển thì xem công nghiệp hóa là quá trình tiếp tục ứng dụng những thành tựu khoa học – công nghệ mới vào các lĩnh vực của xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển hơn. Đối với các nước đang phát triển thì hiểu công nghiệp hóa là quá trình sử dụng những thành tựu khoa học – công nghệ để thay đổi toàn bộ mọi mặt của đất nước, thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Và đối với các nước XHCN ở thập niên 70, 80 của thế kỷ XX thì xem công nghiệp hóa là phát triển công nghiệp nặng.Hội nghị lần thứ bảy BCH TƯ Đảng khóa VII đã xác định: “công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, có khả năng tạo ra năng suất lao động xã hội cao”.Thuật ngữ công nghiệp hóa luôn gắn liền với hiện đại hóa, trở thành một quá trình thống nhất và toàn diện. Khái niệm hiện đại hóa đang sử dụng ở những góc độ khác nhau. Ở góc độ kỹ thuật, cụm từ “hiện đại hóa” được hiểu là hiện đại hóa công nghệ sản xuất, công cụ lao động…mang một ý nghĩa tiến bộ và phát triển, hay nói một cách khác là sự thay đổi và hoàn thiện của phương thức sản xuất. Khi xem xét ở góc độ xã hội, hiện đại hóa là một hình thức phát triển xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, từ truyền thống sang hiện đại. Có thể hiểu một cách chung nhất, hiện đại hóa là quá trình sử dụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật tiên tiến của nhân loại để áp dụng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, làm cho xã hội phát triển hiện đại, văn minh và mục tiêu cao nhất là hiện đại hóa đời sống con người.Như vậy, CNH, HĐH là hai quá trình nối tiếp và đan xen nhau, “CNH, HĐH trong thời đại ngày nay là quá trình cải biến một xã hội cổ truyền thành một xã hội hiện đại, có trình độ văn minh cao hơn, thể hiện không chỉ ở trình độ khoa học và công nghệ hiện đại, tiên tiến có nền kinh tế phát triển cao, xã hội được tổ chức khoa học và hợp lý, mà còn ở đời sống chính trị, văn hóa, tinh thần của xã hội, ở sự phát triển con người, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc”.Hội nghị lần thứ bảy BCH TƯ Đảng khóa VII chỉ rõ: “CNH, HĐH phải được tiến hành theo mô hình một nền kinh tế mở, cả trong nước và với nước ngoài” nhằm “đẩy tới một bước sự nghiệp CNH, HĐH đất nước”.Một mô hình CNH, HĐH mới về chất được áp dụng với những đặc điểm nổi bật sau: 1) đó là việc chuyển đổi cơ chế kinh tế tạo nên sự thay đổi phương thức tiến hành công nghiệp hóa với sự kết hợp của tổng thể các nguồn lực trong và ngoài nước; 2) công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại hóa; kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại hóa những khâu quyết định; 3) CNH, HĐH thực hiện trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, lấy hiệu quả kinh tế – xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản; 4) CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của tất cả các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo; 5) khoa học và công nghệ được xác định là nền tảng, là động lực của CNH, HĐH; 6) CNH, HĐH gắn liền với việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Thực hiện một chính sách mở cửa, hướng ra thị trường thế giới, tạo thế cạnh tranh và hợp tác quốc tế trên phạm vi toàn cầu.Xét về bản chất chính trị – kinh tế – xã hội, CNH, HĐH ở nước ta khác căn bản so với CNH, HĐH từng diễn ra ở các nước tư bản phát triển hoặc các nước công nghiệp mới. Bởi vì, công cuộc CNH, HĐH ở nước ta là để xây dựng CNXH, “CNH, HĐH theo định hướng XHCN”. Cho nên, mục tiêu trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài cần đạt tới trong tiến trình CNH, HĐH là vì “lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội”.Giáo sư Hoàng Chí Bảo cho rằng: “CNH, HĐH thực chất là một cuộc vận động văn hóa lớn diễn ra trên tất cả các khu vực của sản xuất và trên toàn bộ đời sống của chúng ta ngày nay”. Lấy sức mạnh của bản sắc dân tộc, phát huy bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam làm động lực cho sự nghiệp CNH, HĐH. Như vậy, bản sắc dân tộc của văn hóa sẽ phải đứng trước những yêu cầu của thời đại, tiếp biến và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống để tạo nên sức mạnh nội sinh thúc đẩy CNH, HĐH. Đồng thời sự thành công của quá trình đó sẽ góp phần giữ gìn và nâng cao các giá trị bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam.Bài học kinh nghiệm của Thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa và kinh nghiệm của các nước tiến hành CNH, HĐH trước đây cho thấy, các quốc gia muốn tiến đến một sự phát triển theo đúng nghĩa của nó phải biết dựa trên nền tảng văn hóa – bản sắc dân tộc của văn hóa. Từ nhận thức trên, Đảng và Nhà nước ta trong quá trình CNH, HĐH đã xác định: “Phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường… phục vụ đắc lực sự nghiệp CNH, HĐH vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên CNXH”. Như vậy, cùng với việc xác định con đường phát triển đất nước, tiến trình CNH, HĐH chắc chắn chúng ta phải xác định được nền tảng tinh thần vững chắc cho sự phát triển. Nền tảng vững chắc đó chính là một nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam. “nền văn hóa mà Đảng ta lãnh đạo toàn dân xây dựng là nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Những giá trị văn hóa truyền thống vững bền của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí cộng đồng sâu sắc, đạo lý “thương người như thể thương thân” đức tính cần cù, vượt khó, sáng tạo trong lao động… Đó là nền tảng và sức mạnh tinh thần to lớn để xây dựng một xã hội phát triển, tiến bộ, công bằng, nhân ái”.Mặt khác, để có được sự thành công trong công cuộc CNH, HĐH không thể không khai thác có hiệu quả các nguồn lực tự nhiên, sử dụng triệt để cơ sở vật chất, khoa học – kỹ thuật và tận dụng nguồn vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của nước ngoài. Song để phát triển bền vững, điều thiết yếu là phải phát huy tối đa nguồn lực lâu bền quan trọng nhất – nguồn lực con người Việt Nam. Hội nghị lần thứ năm BCH TƯ Đảng khóa VIII đã nhấn mạnh: “nguồn lực quý báu nhất, có vai trò quyết định nhất là nguồn lực con người Việt Nam; là sức mạnh nội sinh của chính bản thân dân tộc Việt Nam”. Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam sẽ là sức mạnh tinh thần vượt qua mọi thử thách trong quá trình CNH, HĐH. Chính sức mạnh tinh thần ấy sẽ điều chỉnh mọi mặt của xã hội và hướng đến sự phát triển bền vững của đất nước.

Chuyên mục: Hỏi Đáp

Share:

Share on facebook
Facebook
Share on twitter
Twitter
Share on pinterest
Pinterest
Share on linkedin
LinkedIn